Hàng rong Sài Gòn hơn 100 năm trước

 

Gánh phở, xe kem, thùng tào phớ… trên vai, bộ bưu ảnh tái hiện nhiều ký ức thân quen ở Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời cho thấy cảnh sôi động của thành phố ngay từ đầu thế kỷ 20.

Đô thị Sài Gòn- Chợ Lớn, một trong hai thành phố quan trọng nhất Việt Nam sau khi Pháp chiếm Đông Dương vào cuối thế kỷ 19. Các nhà nhiếp ảnh người Pháp nhanh chóng phát hiện ra hoạt động buôn bán kiểu di động- hàng hoá, thức ăn được lưu thông dựa vào sự dẻo dai của đôi chân người bán hàng, có mặt ở khắp các ngóc ngách của thành phố. Bộ bưu ảnh hàng rong ở Sài Gòn- Chợ Lớn tái hiện một phần đời sống kinh tế- xã hội cũng như văn hoá của người Việt hồi đầu thế kỷ 20.
Phở là món ăn truyền thống của người Việt xuất hiện đầu tiên trên các gánh hàng rong. Thành phần đơn giản, chỉ gồm nước lèo, bánh phở, một vài miếng thịt và các lọ gia vị. Đây là một gánh phở dạo khác của người Sài Gòn xưa, người bán hàng gánh cả bếp lò, nồi nước sôi đi khắp nơi phục vụ.
Bánh gạo, một loại bánh phổ biến cũng được bán rong trên các khu phố. Bánh được làm từ gạo trộn cùng một số loại ngũ cốc khác cho có mùi vị, cho thêm bột kết dính rồi ép dẹp, sau đó hấp chín.
Cháo, mỳ hay hủ tiếu được người Pháp gọi chung là súp. Các gánh hàng loại này khá cồng kềnh, nặng nề nên chủ gánh thường chọn một góc phố đông người, ngã tư để tiện buôn bán.
Hình ảnh khá thú vị về một xe bán kem của người Hoa Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20. Kem được làm mát bằng đá lạnh xếp xung quanh, sát thùng là một lớp xốp mỏng để giữ đá lâu tan. Người bán sẽ “thu hút” khách bằng một cái chuông nhỏ gắn sát tay lái bên phải.
Khu vực Chợ Lớn tập trung đông đúc Hoa kiều theo đường biển vào lập nghiệp ở Việt Nam từ thời các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi. Người Hoa là những người giỏi buôn bán, chịu khó nên các gánh hàng của họ thường đông khách. Hình ảnh chú “Khách”- một cách gọi người Hoa của người Việt bán với đôi quang gánh bán dạo các món ăn như mỳ, cháo, tào phớ… rất quen thuộc và tồn tại cho đến những năm 70 của thế kỷ 20.
Hình ảnh điển hình của gánh tào phớ xưa. Người bán thường gánh một thùng gỗ đựng tào phớ, một chạn gỗ đựng chén bát, muỗng, và những vật dụng khác. Người bán tào phớ có tiếng rao rất đặc biệt, chỉ có một chữ ” phớ…” kéo dài.
Quán bán nước giải khát trên vỉa hè. Người bán hàng ngồi trên ghế cho thấy quán hàng kiểu này là cố đinh, khách hàng là khách qua đường, các bác phu xe kéo nghỉ chân uống chén trà xanh hay một loại nước trái cây nào đó như dừa, được trồng nhiều ở ngay tại vùng Sài Gòn- Chợ Lớn.
Những thực khách ngồi xổm thưởng thức món mỳ của một người bán hàng rong người Hoa ngay trên đường. Các gánh hàng kiểu này vẫn duy trì nhiều ở Sài Gòn cho đến tận những năm 1970.
Nón lá, hình ảnh đặc trưng của người Việt, được làm từ lá cọ lợp trên nên khung tre nhỏ hình chóp nhọn dưới có quai đeo, nón rộng vành nên che kín mặt và rất mát. Nón của người Việt khác với nón người Trung Quốc hay đội với cái chóp nhọn đặc trưng.
Sài Gòn xưa cũng có những khu phố tập hợp các loại gánh hàng rong để người dân và khách thuận tiện ăn uống. Vào buổi sáng khu phố rất náo nhiệt thu hút cả người Tây sống ở thuộc địa.
Họp chợ trên đường phố là một thói quen cố hữu của người Việt. Buôn bán nhỏ, mang bán từng mớ rau, con cá nuôi được nên người Việt tiện đâu bán đấy. Những hình ảnh này cho thấy các bà các chị đang mua bán nông sản, thực phẩm rất sôi động trên phố phường Sài Gòn xưa.
Một người Việt với chiếc nón lá đặc trưng quẩy đôi quang gánh trên đường phố Sài Gòn. Trong đôi sọt đan bằng lá của người đàn ông này thường có nhiều loại nông sản do chính gia đình trồng được để mang đi bán.

Hải An (Zing.vn)

Với giá cả lên tới hàng triệu đồng cho một món ăn được chế biến, 8 món sau đây được coi là những “sơn hào hải vị” thực sự, mà hiếm ai có dịp được thưởng thức.

500 con cá anh vũ/ 1 tháng dành cho đại gia Việt

Với niềm tin: ăn cá anh vũ sẽ gặp nhiều may mắn, trong năm vừa qua, không ít người đã đổ xô đi tìm ăn cá anh vũ để “xua đuổi cái đen” và rước “ông thần may mắn về nhà”.

Cá anh vũ hay còn có tên gọi khác là cá Tiến Vua, là một trong những loại cá nổi tiếng nhất của Việt Nam bởi sự quý hiếm và ngon miệng. Loại cá này rất khảnh ăn, chỉ ăn rêu tảo và sống ở vùng nước trong, không ăn tạp như nhiều loại cá khác nên nhiều người cho rằng chúng thể hiện sự sang trọng.

Hơn nữa đây là loại cá theo sử sách ghi lại để tiến vua và cúng tế thần linh nên được rất nhiều đại gia Việt yêu thích. Đặc điểm của loại cá này là thịt trắng, quánh và thơm ngon hơn bất cứ loài cá sông nước nào. Tuy nhiên, với người bình thường chẳng ai ăn con cá anh vũ này làm gì, vì nhìn nó như con cá trôi, và giá thì quá đắt… Còn đối với những người có tiền thì loại cá này cũng chẳng đáng là bao. 3,5 triệu một kg, chứ có 10, 20 triệu họ cũng sẵn sàng bỏ ra chỉ để thưởng thức cái khối sụn môi như cái “mõm lợn” của con cá anh vũ.

Và theo một vị giám đốc của Công ty phân phối loại cá anh vũ này cho biết, mỗi tháng công ty của ông xuất ra thị trường khoảng 400 đến 500 con, chủ yếu là cung cấp cho các nhà hàng sang trọng, bán vào Sài Gòn, và xuất khẩu ra nước ngoài.

1 con cua bằng 1 tấn thóc có sá gì!

Nếu như ăn cá anh vũ để lấy may, thì trào lưu ăn cua Hoàng Đế mới là đẳng cấp. Và đẳng cấp ấy có giá bằng cả 1 tấn thóc của người nông dân.

Vào giữa tháng 7/2012, trên báo Phunutoday có đưa tin, một siêu thị ở Hà Nội vừa bày bán loại cua khổng lồ nặng gần 2kg, với giá khoảng 5 triệu đồng một con, mức giá này đắt gấp 10 lần so với cua bể Việt Nam.

Tên của loại cua này là King crab hay còn gọi là cua Hoàng đế. Cua này chỉ sống ở những vùng biển nước rất lạnh và sâu từ 200-400 m như Alaska (Mỹ), Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc… Đây là loại cua hiếm có, khó tìm bởi để đánh bắt nó, những người thợ săn phải ra khơi vào những ngày bão biển. Điều đặc biệt là loại cua này có kích thước và trọng lượng lớn hơn rất nhiều so với cua biển thông thường.

Cách đây vài năm, chỉ có những đại gia giàu có ở Hà Nội mới có cơ hội thưởng thức món ăn cao cấp này tại những nhà hàng sang trọng nhập khẩu về với mức giá khoảng 10 triệu đồng/con. Còn đến năm 2012, họ đã có thể “thỏa mãn” nhã hứng xơi cua Hoàng Đế vì tại siêu thị đã bày bán rất nhiều loại cua này.

Giá mỗi kg tu hài Canada bán tại một số nhà hàng hải sản tại Hà Nội phổ biến 1,9- 2,5 triệu đồng. Các nhà hàng kinh doanh món ăn này và kiếm bộn tiền từ những vị khách tin rằng ăn tu hài có thể tăng cường sinh lực, bổ thận tráng dương.

Tu hài (ốc vòi voi) được sơ chế.

Với trọng lượng trung bình 1-2 kg/con, tính ra, giá tu hài Canada tương đương với giá cua Hoàng đế nhập khẩu.

Được ví như “nhân sâm của đại dương”, những con hải sâm vừa là một vị thuốc quý, vừa là loại thực phẩm cao lương mỹ vị dành cho các bậc vua chúa thời xưa. Hiện 1kg hải sâm thô trên thị trường có giá gần 2 triệu đồng.

Súp vi cá mập cũng là món ăn cực đắt mà nhiều người Việt bỏ tiền ra để thưởng thức. Giá mỗi thố nhỏ dành cho một người ăn ở nhà hàng thường vào tầm 1.320.000 đồng. Còn giá cho 1kg vây cá mập chưa chế biến dao động từ 10 – 20 triệu đồng.

50 – 150 triệu, một bữa rùa vàng

Trong cơn bão giá, nhiều người phải thắt chặt chi tiêu nhưng không ít đại gia sẵn tay chi tiền cho một bữa ăn lên tới 150 triệu chỉ có 3 con rùa vàng mà theo người ta đồn nhau rằng “Rùa vàng cực quý hiếm, nó sống trên đại ngàn, hấp thụ linh khí của trời đất nên máu thịt tinh khiết, đại bổ, ăn vào tăng cường sinh lực, đặc biệt ai có bệnh tim nếu uống rượu pha mật rùa, huyết rùa sẽ hết ngay”. Mức giá thì không hề rẻ chút nào, 50 triệu một con.

Để bồi bổ thậm chí có người còn ăn món này thường xuyên. “Thường thôi, mỗi tháng có khi anh chén vài ba con rùa vàng” – một đại gia cho biết.

Phở (hơn nửa triệu), bít tết (hai triệu) bò Kobe

Món phở tại Hà Nội có giá 750.000 – 850.000 đồng/bát, đắt hơn 20 lần một bát phở thông thường được cho là làm từ thịt bò Kobe nhập khẩu từ Nhật Bản. Bò được nuôi theo một quy trình khá cầu kỳ: ăn ngô non, lúa mạch, uống bia thay nước, được tắm nước nóng, nghe nhạc Mozart, xoa bóp bằng rượu Sake.

Tại Hà Nội, một nơi nổi tiếng với món ăn giá nửa triệu này là khách sạn Vườn Thủ Đô. Theo lời đầu bếp khách sạn này, thịt bò Kobe 40% là mỡ, nhưng không có cholesterol, có thể ăn sống được. Những người ăn món phở giá “khủng” này chủ yếu là doanh nhân, người có điều kiện.

Sau đó không lâu, khi xảy ra lùm xùm xung quanh việc thịt bò Kobe nhập khẩu vào Việt Nam không có chứng từ, cơ quan chức năng yêu cầu các nhà hàng kinh doanh món ăn này phải niêm yết giá công khai cũng như xuất xứ của thịt. Hiện, món phở xa xỉ này gần như “mất tích” ở Hà Nội.

Theo nhân viên khách sạn này, từ nhiều tháng nay, đầu bếp tại đây không còn chế biến món phở Kobe giá hơn nửa triệu. Trên thực đơn hiện tại, món ăn nói trên cũng biến mất.

Cũng giống như món phở, bít tết bò Kobe được một số nhà hàng ở Hà Nội chế biến và một thời gian khá hút khách. Giá mỗi suất bít tết khoảng 200- 300 gam thịt bò là trên 1,9 triệu đồng.

Theo đánh giá của nhiều người, mức này quá cao so với mặt bằng chung. Nhưng cũng có người ủng hộ và cho rằng nếu là thịt bò Kobe thì mức giá nói trên quá “bèo”, ngay cả khi bỏ từ 5 đến 10 triệu đồng mà được ăn thịt bò Kobe thật thì cũng đáng “đồng tiền bát gạo”.

Nửa triệu đồng/chiếc chân gà

Tại một nhà hàng ở Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội, thịt gà Đông Tảo có giá 1.150.000 đồng/kg, còn chân gà Đông Tảo giá 500.000 đồng/chiếc.

Nhiều người cảm thấy sốc, choáng bởi chưa bao giờ thấy ở đâu bán một chiếc chân gà lại có giá cao ngất ngưởng như vậy.

Bên cạnh những người cho rằng, đây là một cái giá cắt cổ thì cũng có những người lý giải sở dĩ có giá đắt như vậy vì gà Đông Tảo chỉ quý ở cái chân, chân càng to thì càng đắt.

Tổng hợp từ Internet

Cách nấu bún chả cá Đà Nẵng

che-bien-bun-cha-ca-2

BÚN CHẢ CÁ là món ăn phổ biến ở các tỉnh vùng duyên hải miền Trung. Đây là món ăn ngon, hấp dẫn mà cách chế biến không hề cầu kì. Bạn chỉ cần chuẩn bị nguyên liệu cho ngon và đầy đủ.

1. Nguyên liệu:

Để làm chả:

– 300g cá thác lác nạo

– 200g phi lê cá basa

– 100g mỡ thăn và 1 quả trứng gà.

– 1 muỗng canh bột mì

Để nấu nước bún:

– xương ống heo để nấu lấy nước.

– 100g bí đỏ cắt to khoảng 4x5cm

– 10 lá bắp cải to bằng 1/2 bàn tay

– 3 quả cà chua, 1/4 trái thơm chín, một ít măng khô hoặc tươi

– 2 muỗng canh mắm ruốc

Rau:

– Xà lách, húng quế, húng lủi, giá sống

– Hành lá, hành hương

– Các gia vị thông thường.

2. Chế biến:

Làm chả cá:

– Phi lê cá basa đem xắt nhỏ, rồi giã thật nhuyễn – Mỡ thăn xắt hạt lựu thật nhỏ – Trứng gà đánh tan cùng với bột mì

– Trộn chung cá thác lác nạo, cá basa, mỡ thăn, trứng+bột với 1 muỗng cafe dầu màu điều, 1/2 muỗng cafe muối, 1/2 muỗng cafe tiêu, 1/2 muỗng cafe đường, 1 củ hành tím băm nhuyễn. Trộn thật kỹ – Thoa dầu ăn lên tay, nặn thành miếng tròn đường kính khoảng 5cm, dày 1cm – Đem chiên ngập dầu, lửa hơi lớn đến khi miếng chả có màu vàng đỏ. Vớt ra ta được chả chiên. Bạn có thể đem chả hấp hơi cũng rất ngon.

Nấu nước bún:

– Xương heo rửa sạch, cho vào nước sôi ninh nhừ lấy chất ngọt.

– Bí đỏ sau khi đã cạo vỏ và rửa sạch, cắt miếng khoảng 4x5cm.

– Bắp cải cắt miếng bằng 1/2 bàn tay. Cà chua cắt múi, Ttơm xắt lát mỏng, măng khô xé sợi, ngâm nước cho mềm (nếu là măng tươi thì chỉ cần rửa sạch, cắt sợi). Luộc măng với ít muối, khi luộc mở nắp để các chất độc trong măng bay hơi.

– Mắm ruốc pha vào nước lạnh, để lắng lấy phần nước trong – Bỏ hết hỗn hợp trên vào nồi nước xương nói trên. Nêm vào 2 muỗng canh nước mắm ngon, 1/2 muỗng cafe muối, 1 muỗng cafe hạt nêm, 2 muỗng cafe đường. Nước sôi đổ phần nước mắm ruốc vào, hầm lửa vừa, sôi lăn tăn 30′ để các loại rau quả ra nước ngọt.

– Sau đó bỏ hết phần chả cá đã chiên vào, nấu thêm 20′-30′ nữa, nêm nếm lại lần cuối.

– Nếu là cá thu hay cá ngừ thì cắt lát, um sơ trước (để cá khỏi nát), ướp với mắm, muối, tiêu, hành băm rồi bỏ vô nồi nước thay chả cá.

Làm hành chua:

– Hành tím bóc vỏ, chẻ dọc làm 2, củ nào to cắt nhỏ làm 4. Nếu thích cà rốt thì gọt vỏ cà rốt, cắt hạt lựu bằng miếng hành. Pha hỗn hợp theo tỉ lệ: 1 chén nước ấm + 1 muỗng cafe đường, 1/2 muỗng cafe muối – Ngâm hành vào, 1 ngày sau ăn được.

3. Trình bày:

– Bún cho vào tô, chan nước lều cùng với chả các hoặc cá lát vào bún. Nhớ là nước bún phải nóng thì ăn mới ngon, không nge mùi tanh của cá. Chả cá có màu vàng đỏ, da dai, trong mềm ngọt, nước ngọt đậm đà kết hợp với hành chua vừa tới, giòn, ko hăng – Khi ăn dọn kèm với rau sống, tỏi ớt giã nhỏ, mắm ruốc.

(Sưu tầm)

CÙNG KHÁM PHÁ 7 MÓN NGON TẠI HÀ GIANG

pic2245

Đến Hà Giang không chỉ để ngắm hoa tam giác mạch, ruộng bậc thang mùa lúa chín, mà còn để thưởng thức rất nhiều món ăn ngon.

Dưới đây là 7 món ăn mà du khách nên thử khi ghé thăm Hà Giang

1. Thắng dền

Thắng dền có vị ngọt đặc trưng của đường hoa mai cô đặc. Ảnh: Cảnh Nguyễn Đức.

Thắng dền là một loại bánh ăn chơi khá phổ biến tại thành phố Hà Giang. Nhiều người nhầm tưởng đây là món bánh trôi miền xuôi nhưng thắng dền lại có cách chế biến hoàn toàn khác. Bánh làm từ bột nếp, đường và được nặn thành viên tròn, Chỉ khi có khách gọi, chủ quán mới cho bánh vào luộc rồi chan nước bao gồm đường hoa mai cô đặc, dừa và gừng. Đây là món ăn khá hợp vào khí trời mát mẻ ở Hà Giang, đặc biệt trong những ngày đông. Vị cay cay của gừng sẽ khiến du khách nhớ mãi không thôi.

2. Thắng cố

Mang đậm nét văn hóa vùng cao, thắng cố là món ăn được nhiều du khách tìm tới khi ghé thăm Hà Giang. Được chế biến từ nội tạng và xương trâu, bò, thắng cố không hấp dẫn du khách ngay từ cái nhìn đầu tiên nhưng với những ai sành ăn thì món ăn này vẫn để lại ấn tượng khó quên. Được ninh kỹ với các loại thảo quả và gia vị đặc trưng của miền núi, thắng cố có vị ngậy, bùi khác lạ. Du khách có thể tìm cho mình một bát thắng cố ở bất kỳ đâu nhưng tới các chợ phiên và nhâm nhi cùng cốc rượu ngô của người dân tộc sẽ là lựa chọn tốt nhất.

3. Rêu nướng

Là một món ăn độc đáo của người Tày tại Hà Giang, rêu nướng có hương vị rất riêng. Để có món rêu nướng ngon, người Tày thường lựa chọn những đám rêu non nhất, rồi khéo léo tách phần nhớt phù sa bên ngoài đem trộn với một số loại gia vị như muối, mì chính, lá mùi tàu… sau đó gói vào lá đem nướng. Món rêu nướng của người Tày có tác dụng chữa bệnh nên được nhiều người yêu thích.

4. Rau trộn

Món rau trộn ngon hơn nhờ có lơ khoải. Ảnh: Cảnh Nguyễn Đức.

Được chế biến từ các loại rau phổ biến tại Hà Giang như cải bắp, cải ngọt hay quả đậu và một số thành phần phụ khác như xúc xích, bánh bao và bánh lơ khoải, dưới đôi bàn tay khéo léo của những con người ở cao nguyên đá, món ăn này trở nên đặc biệt hơn hết. Cách chế biến cũng khá đơn giản. Sau khi chiên riêng từng nguyên liệu, chủ quán sẽ trộn lại cùng một loại tương đặc biệt. Chính loại tương này đã làm nên vị cay lạ của rau trộn. Vị mềm mềm của bánh lơ khoải cùng vị giòn tan của các loại rau quả đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho món ăn này.

5. Bánh cuốn trứng

Cũng là bánh cuốn nhưng ở Hà Giang món ăn này lại không dùng cùng nước chấm như nhiều người vẫn nghĩ. Thay vào đó, khi tráng trên bếp, bánh sẽ được đập thêm trứng rồi dùng chính lớp bột trắng ngần bên ngoài gói lại. Khi thưởng thức, thực khách sẽ ăn kèm với một bát nước lèo thả giò trắng thơm ngon ở trong. Món ăn này ăn lạnh hay nóng đều ngon vì vị ngậy của trứng cùng hương thơm đậm đà của nước lèo.

6. Bánh tráng

Ít ai ngờ Hà Giang cũng có món bánh tráng nổi tiếng

Bánh tráng có lẽ là món ăn không còn xa lạ với nhiều người. Tại cao nguyên đá Hà Giang, nhiều du khách đã dễ dàng tìm được món ăn khoái khẩu này. Cũng được làm từ bột gạo, trứng, hành tươi, bánh tráng Hà Giang có hương vị đặc biệt bởi thứ gạo trồng nơi đây.

7. Cháo ấu tẩu

“Chưa ăn cháo ấu tẩu thì chưa đến Hà Giang”, câu nói này quả thực không sai. Món ăn này không chỉ có mùi thơm ngậy, bùi cay mà còn có vị đắng đặc trưng của củ ấu tẩu, thành phần chính của cháo. Khi mới ăn bạn sẽ hơi khó nuốt nhưng nếu đã quen thì lại trở thành món ăn gây nghiện. Được coi là món cháo giữ nhiệt do vậy thời điểm phù hợp nhất mà du khách có thể thưởng thức món ăn này là mùa đông.

Đỗ Huyền (vnexpress.net)

Sự tích món Phở

phobatdan

Theo Alain Guillmin, người Pháp, món phở Việt Nam là kết quả đầy sáng tạo của Thi Ba – tình nhân của Francois Pierre Vidcoq – một hạ sĩ quan hải quân từng sống ở Sài Gòn từ 1910-1914, ông ngọai của tác giả -khi cô phải chế biến món pot au feu của Pháp cho ông ăn.

Bằng những hương thơm tinh tế của các lọai rau Việt Nam, Thi Ba đã làm ra món phở và nhanh chóng được nhiều người Sài Gòn thời đó biết đến. Đây chỉ là một trong nhiều sự tích về món phở, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Còn có cái gì đặc thù Việt Nam hơn phở, món ăn ngon lành mà Bích, đã nấu thật khéo léo khiến vị giác của chúng tôi đều thích thú. Cùng với trống đồng, đàn bầu và Truyện Kiều, không nghi ngờ gì nữa, đó là một trong những đóng góp chủ yếu của Việt Nam vào văn minh nhân lọai. Đến mức việc bàn luận về giá trị của những lọai phở khác nhau trở nên một lối thử bút mà những nhà văn lớn của Việt Nam thể hiện với sự khóai trá chẳng kém gì khi bình những câu thơ hay nhất của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du hay Xuân Diệu.

Chẳng hạn, trong cuốn Cát bụi chân ai, Tô Hòai kể lại chi tiết cho chúng ta một cuộc tranh cãi, nếu có thể gọi thế, giữa Nguyễn Tuân và Thạch Lam:”Những cái thích và vui ẩm thực của Nguyễn Tuân không chỉ dễ dãi vì miếng ăn miếng uống sang trọng, mà là hợp khẩu vị, và ngon theo ý mính…Bài bút ký Phở đã đưa tác giả vào hàng những tay cực thạo món quà này. Ít ai biết Nguyễn Tuân chỉ ăn một thứ phở, phở chín, phở thịt bò chín. Không đụng đũa vào bất cứ thứ phở nào khác. Thịt bò chín, nạm hay mỡ, bánh vừa phải không nẫu vồng lên -bánh thái sẵn hay thái máy như ở Sài Gòn, Nguyễn Tuân gọi đùa là vằn thắn phở. Xúc bánh xong, thái thịt rồi bày lên, rắc hành hoa và hạt tiêu – không ớt, mặc dầu thích ớt cay…Lùa thật nhanh, ăn thật nóng, lên hết chất phở, thú nhất. Không hành tây, mùi tàu, húng chó, không thêm nước mắm, dấm ớt, tương ớt, không mỡ váng, không mì chính cốt thưởng thức cái tinh túy của nước dùng xương. Tập ký “36 phố phường” của Thạch Lam khen cái ngon của một hàng phở gánh đỗ cạnh cây hương trong sân nhà thương Phủ Dõan, bát phở rỏ mấy giọt cà cuống. Cả thành phố chỉ có một hàng phở cà cuống ấy. Nguyễn Tuân thường cười: “Cái nước chè tươi nóng bỏng môi, cái bánh đậu xanh ngọt xít cổ, lại đến phở cà cuống, cái sự thích của anh nghiện vừa buông dộc tẩu xuống, kể cũng đáng viết cho ra nhẽ”.

Còn gì Việt Nam hơn phở! Nhưng không! Cần phải khôi phục lại sự thật, cho dù đó là niềm tự hào dân tộc. Phở là một trong những sản phẩm của thới Pháp thuộc, kết quả của một sự cộng tác chắc chắn là miễn cưỡng, giữa thực dân với bản xứ (hay nói đúng hơn, giữa một tay thực dân với một người đàn bà bản xứ). Tôi không dám úp mở thêm để làm mất thời gian của bạn đọc, chính ông ngọai tôi, Francois Pierre Vidcoq, một hạ sĩ quan hải quân từng sống ở Sài Gòn từ 1910 đến 1914, cùng với cô Thi Ba xinh đẹp của ông đã nghĩ ra cách nấu phở. Chính ông đã kể cho tôi, kể lén bà ngọai, một Bà Đầm, nghe chuyện này. Tôi sẽ cố gắng truyền đạt trung thành những lời ông kể. Xin nói thêm, ngay cả cái tên của món ăn tuyệt khẩu này chẳng qua cũng chỉ là cách phiên âm sang tiếng Việt của cụm từ Pháp:”pot au feu” – pô-tô-phơ – như các bạn dễ dàng hiểu sau khi đọc những dòng dưới đây…

“Pot au feu” của người Pháp

 

Chuyện thế này: Sau khi đã ổn định tại Sài Gòn, xa tấm thân đang thời xuân sắc của cô vợ người xứ Normandie, Francois Pierre chẳng bao lâu lại tràn trề ham muốn. Ngay cả dưới cái nóng nhiệt đới, thân xác cũng cần khóai cảm, nhà cửa cũng cần dọn dẹp và bàn ăn cũng cần phải có món ăn! Francois Pierre kiếm được một cô gái, đưa về sống trong căn nhà của mình. Mấy tháng trôi qua cũng chẳng đến nỗi nào: Francois Pierre không phải là một người đàn ông độc ác, anh không chửi mắng cô gái để chứng tỏ quyền uy với người da trắng, không đánh đập cô cho hả những lúc bực mình, còn Thi Ba phục vụ những nhu cầu hàng ngày của ông Tây. Ông ta cho phép cô thỉnh thỏang ra ngòai với chúng bạn, còn chuyện kia thì cũng không quá tuần một đôi lần, cốt làm dịu những đòi hỏi xác thịt bình thường.

Nhưng sau đó đột nhiên Francois Pierre ngã bệnh nhớ nhà. Anh trở nên ủ rũ, cáu kỉnh và dễ nổi xung. Những lúc không chỉ mắng Thi Ba hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cô vì những lí do vớ vẩn, anh lại chúi mũi vào chai rượu ngải, mắt kiếm tìm vô vọng vệt xanh lơ của dãy Vosges, điều không thể nào làm được từ mảnh đất Nam Kỳ xa xôi này. Trong trạng thái lơ mơ say như thế, một câu nói cứ dai dẳng bên tai anh không lúc nào ngừng:”Du pot au feu, tôi thèm pô-tô-phơ, ước gì lúc này được một bữa pô-tô-phơ!”.

 

“Phơ, phơ, phơ ” Thi Ba chỉ nghe được có vậy và chẳng biết phải làm gì. Cô bạn của Thi Ba từng làm con ở trong nhà một viên quan Pháp, một viên quan to xa xỉ khó tưởng tượng nổi, đến mức đem theo đến Đông Dương cả một bà đầu bếp người Pháp, giải thích cho Thi Ba hiểu ra đầu đuôi mọi chuyện. Cái thứ pô-tô-phơ đang làm anh lính thủy đánh bộ kgổ sở hóa ra chỉ là một món súp, mà món súp thì Thi Ba biết nấu. Nếu như biết công thức của nó. Thi Ba chỉ bập bẹ tiếng Pháp bồi, Francois Pierre biết không quá hai chục từ tiếng Việt.

Phở Hà Nội

Cuối cùng, nhờ có một con chiên annamite trẻ tuổi biết thứ tiếng của Voltaire-nhân tiện cũng nói thêm rằng tác giả này bị những nhà truyền đạo chính thức cấm đọc- Thi Ba đã hình dung ra được những việc phải làm. Nguyên liệu, pha chế, cách nấu và gia vị, chẳng có gì giống với nghệ thuật nấu ăn của người Việt, thêm nữa, Francois Pierre khăng khăng muốn Thi Ba nấu sao cho giống hệt món pot au feu mà mẹ anh ta vẫn nấu. Rốt cuộc, sau vô số những lần thử nghiệm, những thất bại, cãi cọ, những nồi súp hỏng đổ xuống kênh, Thi Ba đã đi đến một kết quả tạm được Francois Pierre chấp nhận. Dĩ nhiên, món phở của Thi Ba khác hẳn món pot au feu ở quê anh, nhưng, như ngạn ngữ Pháp thường có câu:”Faute de grives on mange des merles!”. Dịch sang tiếng Việt, có nghĩa là:”không có cá lấy tôm làm trọng”.

Thay cho các gia vị truyền thống của nghệ thuật nấu ăn Normandie, Thi Ba sử dụng hương thơm tinh tế của các lọai rau Việt Nam. Món ăn mới này ban đầu được hai người say mê thưởng thức, sau đó đến các bạn bè, rồi bè bạn của bè bạn. Tất cả những người lính thủy từng ghé vào lấy thực phẩm tại cảng Sài Gòn trứơc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đều sẽ nói với bạn, một cách thi vị về món súp của nàng Thi Ba xinh đẹp, cô gái của Francois Pierre Vidcoq.

Ông ngọai tôi sau đó đã trở về Normandie, để lại cho Thi Ba khỏan phụ cấp giải ngũ ít ỏi của mình. Với số tiền này, Thi Ba trở về Hà Nội, nơi chôn rau cắt rốn, mở một tiệm ăn và nó nhanh chóng trở thành nơi ưa thích của những tay sành ăn Hà Nội vốn đông đảo và hay chuyện. Danh tiếng của bà và của món phở ngày một lan xa. Khi ông ngọai tôi mất, bà ngọai tôi tìm thấy trên cổ ông một cái túi bằng lụa nhỏ, bên trong có ảnh một người đàn bà Annamite mặc quần áo cổ truyền cùng một ít lá thơm. Bà khóc suốt đêm và chôn ông cùng với chiếc bùa hộ mệnh ấy.

Câu chuyện về nàng Thi Ba xinh đẹp, Francois Pierre Vidcoq và món phở là như vậy. Chẳng biết đó là chuyện thật hay là chuyện bịa? Điều quan trọng là nó làm cho bạn thích thú và nhớ đến mỗi khi mũi bạn ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt từ một bát phở lớn nóng hổi bay lên.

Alain Guillmin (Pháp)

 

Ngô Tự Lập (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp).

MÙA MƯA, RỦ NHAU VỀ MIỀN TÂY ĂN MÓN NƯỚNG

mav494

Về miền sông ăn cá nướng thơm ngày mưa” (nhạc Phạm Duy)

Ẩm thực miền tây vẫn còn mang đậm nét sơ khai, dân dã của những người đi mở cõi, và đây cũng là nét hấp dẫn du khách đến thăm vùng đất này từ bao lâu nay. Mùa mưa, mùa nước nổi, cũng là mùa miền tây có nhiều món ngon, nhất là những món nướng…

Cá lóc nướng trui
Cá lóc nướng trui là món ăn được người nông dân Nam bộ chế biến nên sau những buổi làm đồng. Cá bắt lên chỉ cần rửa sạch, um rơm nướng chín là có thể cùng nhau thưởng thức ngay giữa cánh đồng rộng gió.Từ món ăn đơn giản đó, cá lóc nướng trui nhanh chóng trở thành một đặc sản mà du khách khi đến Nam bộ đều muốn được một lần thưởng thức. Theo người dân Nam bộ, món ăn muốn ngon thì cá lóc nhất thiết phải là loại sống trong môi trường tự nhiên.Chế biến cá lóc nướng trui không hề khó nhưng nó cũng đòi hỏi sự khéo tay cũng như kinh nghiệm của người làm bếp. Cá nướng chín được bày ra trên lá chuối, cạo bỏ phần vảy cháy đen bên ngoài để lộ ra phần da chín vàng ươm thơm nức đầy hấp dẫn. Món ăn này phải thưởng thức với một rổ rau sống tươi ngon.
Rắn bông súng nướng mọi
Rắn bông súng là một loại rắn lành, thường sống ở đầm, lung, ao, hồ, ruộng ngập nước. Rắn bông súng nướng mọi trên lửa than hồng, khi mùi thơm phảng phất bay lên, da rắn phù ra rồi nứt bung là rắn đã chín tới. Để rắn trên lá chuối xanh, cầm lên bẻ thành khúc, chấm muối ớt ăn kèm với rau răm, diếp cá rất ngọt, rất hấp dẫn.
Gà nướng đất sét
Gà nướng đất sét là một trong những món nướng không thể thiếu khi người Tây Nam Bộ chiêu đãi khách phương xa khi họ tới nhà.
Gà nướng đất sét. Ảnh: Hanhtrangphuot
Với con gà được đắp đầy đất sét với bùn nhão bên ngoài, thui bằng rơm theo đúng cách chế biến nguyên bản của nó. Gà được thui tới khi đất sét khô nứt, bóc đất ra là sạch cả lông. Với cách chế biến này, các chất dinh dưỡng trong gà được giữ nguyên trong từng thớ thịt, có giá trị dinh dưỡng cao. Sự hòa hơp từ vị béo của mỡ gà, mùi thơm của rau cùng với vị mặn chua của miếu tiêu chanh, muối ớt cộng với mùi thơm thoang thoảng của rơm giúp người ăn cảm nhận được sự khác biệt của khẩu vị món ăn đồng quê.Hiện nay, trong các quán nướng, món này đã được thay đổi để thích hợp với không gian quán. Gà cũng được đắp đất sét nhưng bọc bên ngoài một lớp giấy bạc rồi nướng trên bếp than hồng nhưng cũng vẫn là một trong những món hút hồn từ người già cho đến trẻ nhỏ.
Ốc đồng nướng 
Ốc lác, ốc bươu ở Tràm Chim, Tam Nông rất chắc, cầm nặng tay. Sắp ốc lên vỉ nướng trên lửa than. Vỏ ốc rám khô, miệng ốc hở mi mí là ốc đã chín. Đợi ốc bớt nóng, người ta dùng tăm tre lể ốc chấm với nước mắm sả ớt bằm hoặc nước mắm chanh tỏi ớt.
Chuột nướng
Chuột lột da, bỏ đầu và bộ lòng, rửa sạch, để trong rổ chừng 10 phút cho ráo nước. Ướp chuột với nước mắm, tỏi đâm, tiêu giã dập, ít đường, chút bột ngọt, nếu có bột ngũ vị hương thì càng tốt. Sắp chuột lên vỉ nướng với lửa than hồng thật đượm. Khi thịt chuột ngả màu vàng nhạt, khô, cháy xem xém rìa là chuột đã chín. Sắp chuột ra dĩa, chấm thịt chuột với nước tương dầm tỏi, ớt. Đây là một món ăn ngon, dễ ăn, rất được nhiều người ưa thích.
Theo dantri.com.vn

10 món ăn Việt đạt giá trị ẩm thực châu Á

amthuc9-17.12.13

Đây là những món ăn đặc sản có sự độc đáo riêng biệt của các vùng miền của Việt Nam được so sánh đối chiếu với các món ăn đặc sản của các quốc gia trong toàn châu Á.

Những món ăn, đặc sản này sẽ được Tổ chức Kỷ lục châu Á tiến hành quảng bá trên các phương tiện truyền thông của nhiều quốc gia trong khu vực.

Dự kiến, đại diện Tổ chức Kỷ lục châu Á sẽ đến Việt Nam trao bằng xác lập 10 món ăn đặc sản này nhân dịp Hội ngộ kỷ lục Việt Nam lần thứ 27 vào tháng 2/2014.

10 món ăn, đặc sản Việt Nam đạt giá trị ẩm thực châu Á:

1. Chả cá Lã Vọng – Hà Nội

Chả cá được làm từ thịt cá quả, ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm, kẹp vào cặp tre nướng trên lò than hoa. Chả cá ăn nóng kèm với các loại rau thơm ở Láng (Hà Nội), bún Thanh Trì hoặc bánh đa, mắm tôm hoặc nước mắm.

2. Bún cá rô đồng – Hải Dương

Cá rô đồng luộc gỡ lấy thịt, đem rim khô để trong tô bún hoặc bánh đa, thêm rau xanh rồi cho nước dùng. Nước dùng được lọc từ đầu cá, xương cá, tuy nhiên mỗi quán có một bí quyết riêng để nấu nước dùng, để tạo nên vị thơm, ngọt đặc trưng của tô bún.

3. Chả Mực Hạ Long – Quảng Ninh

Mực tươi vừa mới đánh bắt lên từ biển, làm sạch, giã trong cối đá đến khi dẻo quánh, kết dính với nhau. Chả chín vàng ruộm chấm tương ớt, ăn nóng.

4. Cao lầu Hội An – Quảng Nam

Cao lầu có sợi mì màu vàng ươm do được trộn với tro củi tràm lấy từ cù lao Chàm. Mì dùng với tôm, thịt heo, các loại rau sống và một ít nước dùng. Cao lầu thường được bày bán trong các quán ăn 2 tầng, trên có treo đèn lồng xanh đỏ, thực khách có thể vừa thưởng thức món ăn vừa thưởng ngoạn không khí cổ kính phố cổ Hội An.

5. Bánh canh chả cá Quy Nhơn – Bình Định

Nổi tiếng ngon do được làm từ các loại cá tươi: cá thu, mối, rựa, chuồn…, chả cá Quy Nhơn gồm hai loại chả hấp và chả chiên, dùng chung với bánh canh bằng bột gạo hoặc bột lọc, có thêm hành lá, hành củ xát nhỏ, tiêu…

6. Gỏi lá – Kon Tum

Gỏi Lá Kom Tum đúng nghĩa phải có từ 40 đến 50 loại lá cây rất tốt cho sức khỏe, trong đó có 3 loại lá không thể thiếu được là mơ lông, đinh lăng và lá sung. Trên mâm gỏi lá có các món đi kèm là bì heo trộn thính, đĩa thịt heo ba chỉ thái mỏng, đĩa tôm sông xào thơm lựng, ít muối hạt, tiêu hạt, ớt hiểm…

7. Bánh Bèo bì – Bình Dương

Bánh bèo bì chợ Búng (Bình Dương) làm từ gạo đỏ, có vị thịt khìa trộn thính ăn cùng mắm ớt. Khác với các loại bánh bèo khác, bánh bèo bì chợ Búng đổ bằng gạo nguyên được vo đãi thật kỹ, làm bột, quấy với nước cốt dừa rồi đổ vào khuôn đem hấp chín. Đậu xanh đãi vỏ nấu nhừ làm nhân phết trên mặt bánh. Thịt heo nạc khìa với nước dừa, đem thái đều thành sợi nhỏ cỡ cọng bún, rải thính vào cho thơm và thấm đều. Tô nước mắm chua ngọt tỏi, ớt, chanh được pha sẵn. Khi ăn, sắp bánh bèo vào đĩa kèm thêm dưa chua, rau thơm, giá, rắc đậu phộng giã nhuyễn, chan nước mắm.

8. Bún suông (đuông) – Trà Vinh

Chả tôm tươi cho vào bao ni lông cắt một đầu nhỏ để nặn suông vào nồi nước dùng (nước lèo) đang sôi hoặc chiên sơ rồi cho vào nồi nước dùng khi ăn. Nước dùng nấu bằng xương lợn (heo), ít me, tương hạt.

9. Hủ tiếu Mỹ Tho – Tiền Giang

Khác với các hủ tiếu khác, Hủ tiếu Mỹ Tho khác với các loại hủ tiếu là dùng bánh khô, cọng nhỏ, hơi dai và hơi chua, được sản xuất từ gạo Gò Cát, Mỹ Tho. Ngoài thịt, lòng heo, tôm để trên mặt, tô hủ tiếu còn có thêm thịt bằm, trứng cút, cua hay sườn heo, ăn kèm giá sống, hẹ, ớt cắt lát mỏng, chanh. Nước nấu bằng xương lợn (heo), khô mực, tôm khô.

10. Bún cá Châu Đốc – An Giang

Bún cá Châu Đốc là món ăn được coi là khá đơn giản với cá lóc (cá quả), nước lèo và bún tươi. Nước dùng nấu bằng xương ống heo. Cá lóc đồng làm sạch, đầu cá được cắt rời nhưng vẫn giữ nguyên bộ lòng, luộc chín với một ít sả và củ nghệ đập dập giúp nước dùng sẽ có màu vàng đẹp mắt, không có mùi tanh của cá. Cá luộc chín, gỡ thịt, ướp gia vị, xào sơ với nghệ. Gia vị gồm có mắm cá linh, mắm ruốc hòa tan, củ nghệ giã nhỏ, lược bỏ xác cho vào nồi nước dùng. Bún cá ăn kèm rau diếp cá, húng quế, bắp chuối rau muống…

Theo cand.com.vn

Huffington Post: 7 lý do để bắt đầu ăn món Việt

Pho-viet

[MAV] Tờ HuffingtonPost của Anh đã liệt kê 7 lý do để ăn món ăn Việt. Bài báo khá hot và hiện nay đã nhận được tới 16 ngàn lượt like, chúng tôi xin dịch lại cho mọi người tiện tham khảo và chia sẻ.
ĂN KHỎE: BẢY LÝ DO ĐỂ BẮT ĐẦU ĂN ĐỒ VIỆT
-The Huffington Post UK-

Không chỉ ngon, món ăn Việt còn thực sự bổ dưỡng.

Ít chất béo, không có gluten, đầy ắp các loại chất sinh tố và khoáng chất, đó thực sự là những món hoàn hảo để tăng cường hệ miễn dịch của bạn, đồng thời, để hỗ trợ giảm cân và cung cấp năng lượng.
Chúng tôi đã tìm hiểu từ nhà hàng Phở để rút ra được 7 lý do vì sao tất cả chúng ta đều nên chọn món ăn Việt:


1. Trẻ lâu hơn…

…nhờ các chất chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn tiến trình lão hóa. Các món gỏi và canh của dân Việt Nam có chứa nhiều sinh tố E và A, nhờ sử dụng các loại rau củ tươi, gia vị và thịt nạc.

Sinh tố E giúp chống lại các gốc tự do trong cơ thể bạn (một trong những nguyên nhân chính làm mau già), còn sinh tố A giúp phục hồi các vết xước, vết sẹo, xóa mờ nếp nhăn.

2. Giúp bạn sung sức, ít bệnh…

…qua việc cung cấp đủ vitamin và khoáng chất trong ngày chỉ bằng một cái bát. Món nước dùng mất tới hơn 10 giờ đồng hồ để chuẩn bị, và nó cũng là một nguồn cung ứng dồi dào cho bạn 10 loại sinh tố và khoáng chất, như là vitamin C, B3, B6, folate, sắt và magiê – những thứ đồng thời còn có tác dụng làm giảm mệt mỏi.

Rau trộn các thứ kiểu Việt Nam cũng rất chất: món gỏi đu đủ tôm ở nhà hàng Phở cung cấp tới 50% lượng dinh dưỡng cần thiết mỗi ngày từ sinh tố C cũng như B1, B6, B3, folate, biotin, kẽm, đồng, ma giê và kali. Tuy bổ như vậy, nhưng chúng chỉ có 200 calo và ít hơn 2g chất béo trong mỗi dĩa, cho nên chúng tôi đã phải gọi món salad đó là “món ăn đỉnh”.

3. Điều hòa lượng đường trong máu…

…nhờ việc hạn chế những thứ làm từ bột mì. Những món ăn làm từ loại ngũ cốc tinh chế dễ dàng được tiêu hóa, dẫn theo việc giảm một lượng đường đáng kể trong máu, đồng thời cũng làm bạn mau đói hơn. Món ăn Việt hầu như không chứa gluten, vì các món thường có nguyên liệu từ gạo, chẳng hạn bún, bánh tráng, bột gạo… chứ không làm từ lúa mì. Một vài món của Việt Nam làm với nước tương, nhưng có thể thay thế bằng một loại nước chấm khác không có gluten.

4. Cải thiện hệ tiêu hóa…

…từ việc ăn các loại thảo dược như rau mùi, bạc hà. Mỗi tô phở của Việt Nam thường đi kèm với một dĩa đầy những loại rau để bạn chọn và thêm vào tô của mình. Trong đó bạn có thể dễ dàng tìm thấy những loại rau bổ dưỡng, ví dụ như rau mùi, bạc hà, hai loại rau thường được coi là thuốc bổ cho gan đồng thời giúp thoát khỏi chứng khó tiêu, buồn nôn (và cả đau đầu).

5. Giúp cho mái tóc khỏe mạnh…

…với sắt, protein và sinh tố C. Ăn nhiều chất sắt và protein từ thịt nạc sẽ tốt cho sự phát triển và nuôi dưỡng của mái tóc. Còn nữa, vitamin C hỗ trợ hấp thu chất sắt, vì vậy khi ăn các món chiên xào của hoặc bún của Việt Nam (thường kèm theo nhiều thịt nạc và rau), thì bạn lợi cả đôi đường.

6. Giảm lượng đường…

…như những gì chúng ta đề ra trong năm 2014. Đầu năm nay, các chuyên gia y tế đã cảnh báo rằng đường cũng nguy hiểm như rượu và thuốc lá. Nhiều món canh và cuộn như nem rán, gỏi cuốn của Việt Nam thường có ít đường (ít hơn 5g muỗi phần ăn). Ăn đồ Việt sẽ giúp bạn căt giảm bớt nhiều đường trong tuần.

7. Giảm cân…

…với việc giảm lượng calo và chất béo. Các món ăn Việt thường dùng tới nhiều loại thảo dược và gia vị (thay vì dùng dầu hoặc bơ sữa) và thường có nhiều rau quả tươi, nên bạn sẽ tìm thấy rất ít calo và chất béo trong chúng. Một tô phở hoành tráng cũng chỉ có từ 300 tới 600 calo, và ít hơn 3g chất béo, như vậy bạn có thể ăn một phần như vậy vào buổi trưa hoặc tối trong ngày như là cách để điều chỉnh việc thu nạp calo, chất béo vào cơ thể.

Bạnh Bư dịch.
Theo Huffington Post UK.

UỐNG SỮA ĐẬU NÀNH TRONG ĐÊM ĐÀ LẠT

550_sua-dau-nanh-tang-bat-ho

Đêm Đà Lạt uống sữa đậu nành, đó là những thứ gần như đã gắn liền với nhau trong tâm thức của người yêu thành phố ngàn hoa. Đêm Đà Lạt được thiên nhiên ban cho cái lạnh quanh năm suốt tháng, và từ đó, người Đà Lạt đã thêm vào cho đêm những dòng sữa nóng, thanh tao, ngọt ngào. 

Tất nhiên theo thời gian, Ðà Lạt bây giờ đã có nhiều thay đổi, chuyện thay đổi để tốt hơn hay xấu hơn còn tùy theo cách nhìn cá nhân. Nhưng có một thứ bình dị của Ðà Lạt đó là món sữa đậu nành, một thức uống bình dị tới mức không cần khen hay chê, không cần phải khoe hay giấu; một thứ tuy không được xếp hạng hay được trưng trên các phương tiện truyền thông nhưng chắc chắn nếu món sữa đậu nành mà vắng bóng hoặc không được ưa chuộng thì Ðà Lạt sẽ không còn là Ðà Lạt!

Sữa đậu nành Ðà Lạt có gì lạ?

Không ai cất công đi ngược thời gian để tìm lịch sử một thức uống bình thường như sữa đậu nành. Nhưng khí hậu và cảnh quan Ðà Lạt là cái nôi tạo cho món sữa đậu nành vị trí “xuất thân” khác biệt hẳn với mọi ly sữa đậu nành ở các vùng miền khác. Có người cho rằng sữa đậu nành Ðà Lạt được biết tới nhờ ăn theo “địa vị sang trọng” xứ cao nguyên, nhưng cũng có người cho biết sữa đậu nành là món quà quí, rất riêng mà văn minh của “thành phố Châu Âu nhiệt đới” này đã may mắn tìm thấy.

Mỗi du khách đến Ðà Lạt về đêm không thể không nhớ đến, không thể không rủ nhau đi uống sữa đậu nành. Và từ xưa Ðà Lạt hiểu được nhu cầu này nên những quầy, những quán, những gánh sữa đậu nành bày bán có khi nhiều hơn cả những điểm các mặt hàng khác.

Một bà có gánh sữa đậu nành nói. “Không chọn nghề này thì thôi chớ khi bán rồi thì dù ế hay đắt hàng cũng cứ chung thủy miết.” Thật khó có thể phân tích tại sao phải “chung thủy miết với sữa đậu nành.”

Trời lạnh cầm ly sữa nóng trao cho khách có khi cái cảm giác ấm bàn tay cũng khó bỏ, có khi hương sữa đậu nành bay đặc trong khí lạnh cũng là thứ mùi hương ngửi lâu đâm ghiền, có khi thích nhìn khách áp hai bàn tay vào ly để sưởi còn miệng thì hớp từng ngụm nhỏ như một đứa trẻà Nhiều người cho rằng nhu cầu uống sữa đậu nành của dân Ðà Lạt và của du khách, cùng với cung cách phục vụ ân cần của người bán sữa cũng đủ làm nên một nét văn hóa đặc sắc của Ðà Lạt.

Một nhà văn mê Ðà Lạt đến mức nếu trong tháng mà không có ít nhất một lần lên thăm là sẽ bị bệnh, ông này hùng hồn nói như bảo vệ tác phẩm trước hội đồng xét chọn, “Tôi không phản đối bắt chước Tàu uống trà, bắt chước Tây tạo phong cách cà phê nhưng cứ kiểu đó thì chúng ta có gì riêng nào, thí dụ chúng ta sẽ bổ sung sáng tạo thêm được gì vào cung cách Trà Ðạo của Nhật nào? Sao chúng ta không cùng nhau làm ra giá trị văn hóa sữa đậu nành. Không đùa đâu. Không chỉ vì sữa đậu nành gắn bó lâu đời với Ðà Lạt, mà xét về góc cạnh dinh dưỡng không thức uống nào có thể mang tính bổ dưỡng – văn minh hợp thời đại bằng sữa đậu nành.”

Ðêm Ðà Lạt, du khách có thể uống sữa đậu nành mọi lúc mọi nơi. Nếu thích uống sữa đậu nành gánh ở bờ Hồ Xuân Hương thì du khách sẽ được “khuyến mãi” thêm vài mẫu chuyện vui, buồn về đời tha hương cầu thực của dân nhập cư bán sữa đậu nành.

Ở phố đi bộ thì sữa đậu nành được bày bán trong mấy chiếc xe bán hàng bằng nhôm có treo đèn màu nên bàn ghế sáng choang, sữa đậu nành ở đây có “khuyết điểm” là giống mấy xe bán hủ tíu, bán bánh ướt ở Sài Gòn, để có một chỗ bán sữa đậu nành ở phố này nghe đâu người bán phải mua chỗ gần cả chục triệu đồng. Nhưng đích thị sữa đậu nành Ðà Lạt là ở những tiệm chỉ bán sữa đậu nành, có tiệm chỉ rộng vài mét vuông nhưng cũng đàng hoàng bày bán ở mặt tiền đường lớn hoặc hẻm nhỏ.

Ở phố Tăng Bạt Hổ có tiệm sữa đậu nành bán rất đắt hàng, vào những ngày cuối tuần du khách ngồi tràn ra chật một đoạn đường để uống sữa. Có du khách thích uống sữa đậu nành pha với sữa bò đặc, sữa đậu phộng, sữa đậu xanh hoặc thích ăn thêm vài cái bánh sừng trâu, bánh hạnh nhânà Nhưng đa số khách chỉ thích ngồi trên các ghế nhỏ, tay “ôm” ly sữa đậu nành rồi đưa lên chu miệng hớp từng ngụm sữa nóng. Có người sành sữa đậu nành cho biết là sữa ở tiệm trên phố Tăng Bạt Hổ ngon, rẻ nhưng không phải là ngon nhất Ðà Lạt. Theo họ sữa đậu nành trước đây ở chợ Âm Phủ, ở đầu dốc chợ Hòa Bình hay sữa đậu nành bà Lan mới là sữa ngon nhất… Ở phố Phan Ðình Phùng cũng có vài tiệm sữa thuộc loại ngon, nhưng nói chung sữa đậu nành ở Ðà Lạt chỗ nào bán cũng ngon, còn nếu muốn chỉ ra một tiệm một gánh, một xe bán sữa nào đó để gọi là “Ðệ nhất sữa đậu nành” thì có lẽ nên tổ chức bầu chọn, mà tại sao không bầu chọn ra sữa đậu nành Ðà Lạt số 1 giống như cách bầu chọn tổng thống nhỉ!

Một câu chuyện trong quán sữa đậu nành

Hôm chúng tôi đến Ðà Lạt trúng vào lúc có áp thấp nhiệt đới, bình thường mùa Thu Ðà Lạt luôn mưa dầm dề, gặp lúc biển duyên hải miền Trung động mưa lại càng thê thảm hơn. Chúng tôi ngồi co ro trong tiệm sữa đậu nành ở số 98 phố Phan Ðình Phùng, cùng co ro “ôm” ly sữa với chúng tôi có một cặp vợ chồng tuổi trung niên và một ông già còn quắc thước. Sữa nóng, thơm lừng, phố phường vắng ngắt, đó đúng là một cảnh buồn theo đúng phong cách Ðà Lạt.

Bỗng nhiên phía bàn của cặp vợ chồng tuổi trung niên có tiếng nói, người đàn ông quay sang hỏi chuyện ông già, “Bác chắc là dân ở đây?” Ông già đáp, “Tôi ở đây từ năm sáu mươi, lúc Ðà Lạt vẫn còn thấy cọp về.” Người đàn ông trung niên nói, “cháu trước đây cũng ở Ðà Lạt, năm sáu tám thì dời đi, mấy chục năm nay mới trở lại, nơi này bây giờ khác quá.” Ông già hỏi, “Trước đây anh làm gì, rồi đi đâu?” Người đàn ông nói, “Trước đây cháu là lính Biệt Ðộng Quân, sau năm sáu tám chuyển lên Pleiku, sau đó đi “học tập cải tạo”, khi về bận đi làm ăn, nay mới có dịp đi với bà xã thăm lại Ðà Lạt.”

Ông già hỏi, “Anh đi học tập bao lâu, trước đây cấp bậc gì?” Người đàn ông dè dặt nói, “Dạ chín năm, mà thôi đừng nói chuyện đó, nói làm gì hả bác.” Ông già vẫn cứ thản nhiên “Anh ngại không nói cấp bậc thì thôi, chớ tôi xưa cũng dạy ở trường sĩ quan Ðà Lạt.” Người đàn ông dè dặt hỏi, “Thế bác dạy gì?” Ông già nói “Dạy võ. Anh có quen ai từng học ở trường sĩ quan Ðà Lạt cứ hỏi Phạm Xuân Việt chắc có người còn nhớ.”

Người đàn ông không hỏi gì thêm. Ðược một lúc, người đàn ông lên tiếng gọi thêm sữa đậu nành, đây là ly sữa thứ ba của ông. Bà chủ quán đi vào hỏi ông già rằng ông có ăn bánh ngọt như mọi ngày không, rồi bất chợt bà quay sang nói với người đàn ông, “Nếu tôi không nhầm thì anh là Việt kiều, mấy ông mấy bà Việt kiều mỗi khi vào chỗ em là uống mỗi người hai ba ly sữa, có dùng gì thêm thì giúp cho quán em.”

Sữa đậu nành Ðà Lạt vẫn nóng thơm, như để an ủi người đàn ông trung niên, người không dám thừa nhận đầy đủ lịch sử bản thân và sưởi ấm thêm cho tính minh bạch của một ông già Ðà Lạt cố cựu.

Ðêm Ðà Lạt mù mưa, ai chui vào tiệm sữa đậu nành cũng thấy sướng. Và chúng tôi kể lại câu chuyện tình cờ được nghe ở trên cũng là cách chúng tôi muốn bày tỏ rằng, có khi vào một ngày nào đó, Ðà Lạt thiếu vắng ly sữa và những tiệm sữa đậu nành thì ngày đó sẽ không có sự kết nối lành lặn giữa một Ðà Lạt tuyệt đẹp trong ký ức và một Ðà Lạt có nhiều cái mới nhưng chưa có hồn.

Bài viết của Trần Tiến Dũng – Người Việt

Bánh chưng, bánh dày vào top món ăn lễ hội thế giới

NguyenBinhVTV-140519050544-Banh_chung_(goi_khong_khuon)

(TNO) Tạp chí du lịch nổi tiếng National Geographic (Mỹ) vừa công bố danh sách 10 món ăn truyền thống lễ hội đặc trưng trên thế giới, trong đó có bánh chưng và bánh dày của Việt Nam.

Bánh chưng Việt Nam được xếp vào danh sách 10 món ăn truyền thống đặc trưng trên thế giới, do tạp chí uy tín National Geographic bình chọn – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

National Geographic nhận định Tết là dịp lễ quan trọng nhất của người Việt Nam, đánh dấu một năm mới với mùa Xuân và những kỳ vọng mới.

Đây là dịp để người Việt đoàn tụ với gia đình và cùng quây quần bên mâm cỗ mà không bao giờ có thể thiếu món ăn truyền thống là bánh chưng, với nhân thịt và đỗ xanh, xung quanh là gạo nếp, tạp chí Mỹ bình luận.

Tất cả được gói trong những chiếc lá dong, tạo nên chiếc bánh hình vuông, tượng trưng cho đất, cũng như bánh dày được làm từ nếp trắng giã mịn, hình tròn, tượng trưng cho trời, theoNational Geographic.

Trong danh sách 10 món ăn truyền thống của National Geographic còn có món “Bánh mì của người chết” của Mexico, một loại bánh cho “Ngày của người chết”, món Hákarl dùng trong lễ hội mùa đông của Iceland, món bánh trung thu cho ngày Tết Trung thu của Trung Quốc.

Ngoài ra còn có bánh Hamantaschen dành cho lễ hội Purim của người Do Thái, bánh Vua trong ngày hội Mardi Gras của Mỹ, bánh Besan Burfi có trong lễ hội ánh sáng Diwali ở Ấn Độ, bánh Kahk cho ngày hội Eid al-Fitr của Ai Cập, món Haggis dùng để thưởng thức trong lễ hội Burn của Scotland và món “Bánh cho ngày Cách mạng tháng 5” của Argentina.

Hoàng Uy (thanhnien.com.vn)

TẢN MẠN VỀ THỊT KHO TÀU – món ngon ngày Tết

tkt

Tôi dám chắc rằng rất nhiều người cũng nhầm như tôi, tưởng rằng tên món này xuất phát từ Trung Quốc, là của người Tàu.

Nhưng rồi tôi cứ thắc mắc rằng ít khi thấy người Tàu ăn món này, mà nguyên liệu để dùng cho món thịt kho tàu, là thịt ba rọi, cái loại thịt có cả nạc, cả mỡ, cả bì, xếp từng lớp khéo léo cứ như người ta cố tình tạo ra nó, thì chắc chỉ có dân Việt.

Mãi cho đến khi đọc tài liệu về thịt kho tàu, mới thấy có cách giải thích hợp lý hơn cả: theo ông nhà văn Nam Bộ Bình Nguyên Lộc, chữ ‘tàu’, ở đây, theo nghĩa của người “miền dưới” là ‘lạt’, như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là hai con sông nước lợ. Như vậy thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt.

Cũng có thuyết rằng, món thịt kho bên Tàu từ cái ông tể tướng Vương An Thạch đời Tống nghĩ ra, nhưng xem lại thì cái món thịt kho của ông, chả giống gì cái cách mà chúng ta thấy ở miếng thịt kho tàu xứ Việt. Vậy hóa ra cái món thịt kho mà được cả Bắc Nam hâm mộ ấy, đúng như lời giáo sư Trần Văn Khê nói: món thịt kho “tàu” hóa ra lại là “ta” hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm.

Thịt kho tàu, cùng với bánh tét, dưa hấu, canh khổ qua dồn thịt, đã trở thành món không thể thiếu trong thực đơn ngày Tết của người Nam Bộ. Miếng thịt mềm rục có cả màu đỏ au của thịt nạc, trong trong của mỡ, nâu nâu của bì hầm nhừ, sóng sánh vàng ươm của nước màu chưng đường, kèm vị bùi của nước dừa xiêm, vị mặn của nước mắm đã được làm thanh đi bằng đường, thi thoảng có thêm vị hắc của chút xì dầu, điểm xuyết thêm mấy hột vịt luộc mà nước thịt ngấm đều từ trong lòng đỏ đến lòng trắng, đặt cạnh bát cơm trắng thơm nức trên bàn thờ ông bà, bên cạnh đĩa dưa chua, dường như đã thành truyền thống trong mâm cơm cúng tưởng nhớ ông bà tổ tiên.

Ở ngoài Bắc, có lẽ để phù hợp với khí hậu lạnh, món thịt kho tàu đã được thay thế bằng đĩa thịt đông trong mâm cơm cúng ngày Tết. Tuy nhiên trong bữa ăn hằng ngày mùa lạnh, thì món thịt kho tàu vẫn là một trong những món được ưa chuộng nhất. Thịt kho tàu ở ngoài Bắc, ít có nước dừa xiêm, nhưng vẫn không thể thiếu vị hành khô, nước mắm, vị của đường cháy tạo ra vị hơi ngọt, làm giảm cái mặn khát của các món kho thông thường, tạo màu vàng óng cánh gián quyến rũ.

Thịt kho tàu cũng như bao món kho khác, được nấu như món ăn để lưu trữ dài ngày. Nấu thịt kho tàu không khó, nhưng để nấu ngon, cũng không dễ chút nào. Miếng thịt mềm nhừ mà không nát, không bị quắt lại, màu thịt đỏ au ánh lên màu cánh gián, trứng vịt thấm đẫm nước thịt mà không đen, nước thịt vàng trong, không quá lõng bõng nước nhưng cũng không quá cạn làm khô miếng thịt.

Mỗi lần ăn có thể mang ra đun lại, càng nhiều lửa, thịt càng rục, càng mềm, càng ngon. Thịt kho tàu có thể được ăn với nhiều món, cơm trắng, dưa kiệu, dưa giá nhưng có lẽ phổ biến nhất là ăn kèm với dưa cải chua. Có lẽ vì mặn, vị ngọt, vị bùi béo của thịt kho tàu kết hợp với vị chua xen lẫn cay cay của dưa cải muối xối, tạo nên hương vị quyến rũ đến bất ngờ.

Nước thịt kho tàu chấm dưa cải, hay rưới vào bát cơm gạo mới nóng hổi, không cần ăn thêm gì cũng thấy ngon. Không chỉ có vì bùi béo của thịt, nước thịt kho ngấm vào trứng luộc đã bóc vỏ, tạo nên vẻ quyến rũ lạ kỳ cho quả trứng, khác hẳn với vị ngán rất khó nuốt của trứng luộc thông thường.

Có một món nữa chắc sẽ làm xiêu lòng người thích thịt kho tàu, là xôi trắng ăn với thịt kho tàu. Buổi sáng, làm bát xôi trắng, với mấy miếng thịt kho tàu, chan ít nước thịt kho tàu lên, đảm bảo chắc dạ đến trưa.

Người Nam bộ còn có món bánh tráng ăn với thịt kho tàu, vừa là món ăn chơi, nhưng khi kèm với thịt kho tàu, nó cũng trở thành món chính từ lúc nào. Miếng bánh tráng trụng qua nước, gói với rau thơm, đồ chua, kèm thịt, nhúng vào bát nước thịt đã dầm trứng, nêm thêm ít chanh với vài lát ớt cay, vừa ăn vừa xúyt xoa, còn gì bằng!

Có lần một chị bạn thốt lên với tôi “Sao đàn ông ông nào cũng thích ăn thịt kho tàu vậy ta ?”. Tất nhiên không chỉ đàn ông, mà rất nhiều người thích ăn thịt kho tàu, nhưng bảo là đàn ông ăn thịt kho tàu cũng có lý của nó. Không biết có ai đó nói với tôi rằng, dường như có cái gì đó liên tưởng giữa cái vị mềm mềm, ngọt thanh thanh dìu dịu của miếng thịt kho tàu với sự dịu dàng, giản dị trong tính cách của người phụ nữ trong gia đình.

Có thể người đó vì yêu món thịt kho Tàu mà nói quá lên đó thôi, nhưng rõ ràng là không phải là không có lý. Và có lẽ vì thế mà hầu hết đàn ông Việt, đều thích món thịt kho tàu chăng?

(Nguồn Tuoitre online)

NHỮNG MÓN ĂN SẼ KHIẾN BẠN PHẢI LUI TỚI ĐẮK LẮK NHIỀU LẦN

pic2320

Đến với Dak Lak, du khách không chỉ hòa mình trong cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, tìm hiểu nét văn hóa đậm bản sắc của các dân tộc nơi đây. Chuyến du lịch đến vùng đất đại ngàn còn là dịp để bạn khám phá những món ăn tuyệt vời mang đậm hương vị rừng núi.

Sau đây là danh sách một số món ăn có hương vị độc đáo, ngon lành sẽ khiến bạn phải lui tới vùng đất này thêm nhiều lần nữa.

1. Gà nướng sa lửa

Combo tuyệt vời cho món gà nướng này là cơm lam và muối sả

Gà nướng sa lửa là một trong những biến tấu của món gà nướng Bản Đôn. Nguyên liệu chính là những con gà ta chính hiệu cùng cách chế biến nướng trên lửa than. Khách cũng chấm gà với muối ớt hoặc muối sả. Tuy nhiên, gà nướng sa lửa dùng kẹp tre thay vỉ nướng. Bên cạnh đó, gà không được tẩm ướp hay trước khi nướng. Cách nướng này khiến thịt gà thơm hơn, chắc hơn và vẫn giữ nguyên vị ngọt của thịt.

2. Gỏi lá

Với sự hiện diện của hơn 40 loại lá rừng khác nhau, người ta gọi món ăn này là gỏi lá song nếu xét về cách thưởng thức là kẹp đủ các loại lá, bỏ vào đó thịt, tôm, da heo và các gia vị như tiêu nguyên hạt, muối hạt, ớt cay xanh… sau đó chấm với nước dùng, nói món ăn này thuộc họ cuốn chấm sẽ chính xác hơn.

 

Ngoài cái đặc biệt của việc hơn 40 loại lá cây tham gia vào món ăn, nước chấm của gỏi lá được làm từ hèm rượu, được khử qua dầu ăn, lẫn cùng trứng vịt thành loại nước chấm sền sệt. Món ăn có hương vị khá lạ.

3. Lẩu lá rừng

Gọi là lẩu song lẩu rau rừng giống món canh hơn, với 10 loại lá rừng được chọn lọc nấu cùng tôm khô hoặc thịt các loại.

Món “lẩu” lá rừng này được chế biến đầu tiên bởi những người dân tộc Ê đê khi phải đối diện với cuộc sống khó khăn. Để có thức ăn hàng ngày, họ đã vào rừng để hái những loại lá khác nhau về nấu canh. Trải qua thời gian, “lẩu” lá rừng đã trở thành món đặc sản của người dân tộc bản địa và du khách.

4. Thịt nai

Thịt nai tươi khác thịt bò ở chỗ ít gân, mỡ màu trắng ngà, mềm hơn cả thịt bê non. Nai được chế biến thành nhiều món như nai xào làn, nai nhúng giấm, nai lúc lắc, sườn nai rán, cháo bao tử…

Bạn có thể thưởng thức món thịt nai tại nhà hàng đặc sản tại trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Giá cả khá mềm và chất lượng ổn.

5. Rượu cây

Xét về cách ủ, lên men, rượu cây không khắc biệt với các loại rượu khác của Tây Nguyên. Điểm đặc biệt của loại rượu này là tên gọi xuất phát từ thói quen uống rượu dưới gốc cây cùng tập tục lang thang trong rừng sâu của người Bahnar, Xê Đăng, Jrai… trong tháng Ninh Nơng (tháng sau khi kết thúc mùa rẫy).

Dù không phải thật sự là loại rượu đặc sắc, song cái thú nhắm rượu cùng các món thịt rừng nướng nóng hôi hổi trong cái mát mẻ, hoang sơ tại một gốc cây nào đó trong rừng sâu sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm tuyệt vời.

Theo Huỳnh Hằng (Infonet)

HÌNH ẢNH XƯA VỀ ẨM THỰC SÀI GÒN [Phần 1: Giải khát]

Bạn có bao giờ tự hỏi cách đây tầm một thế kỉ, hoặc năm bảy chục năm, dân Sài Gòn có thói quen ăn uống như thế nào? Có những gì giống, những gì khác so với bây giờ? Hãy cùng xem lại những hình ảnh dưới đây nhé! 


Xe bán nước dạo thập niên 1940

Cô hàng nước nhỏ tuổi với nụ cười chất phác, ô kìa, phía sau có phải là Cầu Mống?


Nước ngọt Con Cọp lừng lẫy một thời, nay đã là dĩ vãng

Bia Lade Trái thơm từng rất được ưa chuộng. Gọi “Lade trái thơm” nhưng món bia này chẳng dính dáng gì tới trái thơm cả, chỉ vì hai dây hoa trên nhãn hiệu có hình giống …trái thơm, nên dân ta gọi vậy cho dễ nhận diện.

Bia 33, sau đó vài chục năm, nó mọc thêm số 3 trong tên gọi.


Nước ngọt Con Cọp, bia 33 hay bia La De (Larue) đều là sản phẩm của công ty BGI (viết tắt của Brasseries & Glacières De L’Indochine)

Một cửa hàng bán bia và nước ngọt các loại vào những năm 60. Chữ “Lave Larue” ở góc trái cũng là lý do vì sao bia Larue hay được gọi là bia “La De”


Nước ngọt Coca Cola thâm nhập thị trường Việt Nam vào đầu thập niên 1960


Phút nghỉ ngơi của anh bán nước


Nước cam không ga Bireley’s rất được nữ giới ưa chuộng

Xe nước mía, chẳng khác ngày nay là mấy


Một xe nước mía ép tay

Bà con ăn chè bên xe chè của người Hoa. Xe chè người Hoa làm cầu kỳ, nhiều họa tiết điển tích rất đẹp mắt.


Xe đẩy bán rau má, nước ngọt. Có thể thấy người bán đang chặt đá, kế bên là thanh gỗ để làm đá bào (dành cho món xi rô đá bào mà học sinh rất yêu thích)


Xe bán sinh tố trên đường Nguyễn Cư Trinh (quận 01)

Nước ngọt đóng bịch, bánh tổ, và cô gái có phong cách rất mô-đen sành điệu.

Xe bán nước giải khát và quán cà phê nhỏ xíu bên vỉa hè.

Tiếng đồn MÌ QUẢNG PHÚ CHIÊM…

Ít ai biết rằng “cái nôi” của mì Quảng là ở làng Phú Chiêm, xã Điện Phương (Điện Bàn – Quảng Nam), nơi mà tô mì vẫn giữ nguyên truyền thống, hương sắc dân dã, không lẫn vào đâu được.

Ngày nay, món mì Quảng theo chân các cư dân Quảng Nam – Đà Nẵng lan toả khắp vùng miền đất nước từ Nam chí Bắc. Nhưng ít ai biết rằng “cái nôi” của mì Quảng là ở làng Phú Chiêm, xã Điện Phương (Điện Bàn – Quảng Nam), nơi mà tô mì vẫn giữ nguyên truyền thống, “hương sắc” dân dã, không lẫn vào đâu được. Ai đã một lần ăn thì không thể nào quên.

Chúng tôi đến làng Phú Chiêm vào một ngày cuối tuần, khi nắng vàng trải dài trên ruộng đồng, nơi làng mạc của một miền quê nghèo miền Trung đầy nắng gió. Làng Phú Chiêm nép mình bên con đường nhựa nhỏ, vẫn những hàng cau, khóm chuối, bụi bờ.

Nồi nước nhưn hấp dẫn

Nơi đây, bạn có thể thấy được các bà, các chị với quang gánh quảy đi bán dạo món mì Quảng hoặc ngồi bán ở dưới gốc cây đa hay một quán cóc bên đường. Sau khi dạo một vòng quanh làng, chúng tôi vào “gánh mì” của bà Bà Ngô Thị Tài (78 tuổi) ở bên đường. Miệng đang ăn trầu, bà Tài vui vẻ đọc thơ: “Thương nhau múc chén chè xanh, làm tô mì Quảng để anh ăn cùng”.

Đọc xong, bà cho biết chỉ còn lại 3 tô mì cuối cùng thôi. Trong lúc dọn mì phục vụ, bà Tài tâm sự:

“Tôi theo nghề bán mì từ thời còn con gái, khoảng 60 năm rồi. Lúc bấy giờ, đôi chân còn mạnh khoẻ, tôi gánh mì đi bán tứ xứ: gần thì Điện Thắng, Điện Bàn, Vĩnh Điện xa thì đi ô tô đến Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ để bán.

Nhờ mì Quảng Phú Chiêm có sẵn thương hiệu, giá cả lại bình dân nên được khách hàng ưa chuộng. Hằng ngày, tôi thức dậy lúc 3 giờ sáng, chế biến đến 6 giờ là gánh đi bán, bán đến 10 giờ thì hết mì. Mỗi ngày bán khoảng 8 kg mì, lãi khoảng 70.000 đồng.

Ngày trước, chế biến món mì Quảng khá lâu, bây giờ máy móc, dịch vụ về tới nông thôn, nên mỗi làng có vài nhà chuyên tráng mì để cung ứng cho cả trăm gánh mì trong thôn. Đến rau sống, đậu phụng rang cũng do một người chuyên cung cấp. Chúng tôi chỉ lo nấu nồi nước nhưn cho đậm đà, thi vị mà thôi”.

Nhìn tô mì Phú Chiêm của bà khá đẹp mắt với màu đỏ của nhưn tôm, màu vàng của đậu phụng giã dập, màu nâu của bánh tráng nướng vàng, màu xanh non rau sống và ớt trái… Chúng tôi ăn hết 3 tô mì của bà, mà vẫn còn thòm thèm giữa khung cảnh làng quê. Giá rất đỗi bình dân: 12.000 đồng/tô.

Bà Tài cho biết bí quyết để có tô mì ngon thì khâu đầu tiên là sợi mì được làm từ gạo xay thật mịn và phải là gạo xiệc ngon từ những cánh đồng phù sa ven sông Thu Bồn, khi đúc mì mới có những lá mì mềm mướt, trắng nõn, dai dẻo.


Bà Tài đang giới thiệu mì Quảng Phú Chiêm truyền thống do bà chế biến.

Sau khi tráng một lớp dầu phộng đã khử củ nén cho thơm lên lá mì, gấp lại rồi xắt thành từng cọng như cọng phở; Nồi nước nhưn có thể được nấu bằng nhiều loại nguyên liệu khác nhau như thịt heo, bò, gà vịt, tôm, cá lóc, ếch, mỗi thứ nguyên liệu lại mang đến một hương vị riêng.

Nhưng theo những bậc sành ăn ở xứ Quảng thì nước nhưn mì Quảng truyền thống chỉ nấu với thịt heo (ba chỉ) và tôm. Đó là nét đặc trưng chỉ có làng Phú Chiêm vẫn trung thành với nồi nước nhưng đó; Rau sống ăn kèm với mì khá phong phú, thường là rau muống chẻ mỏng, búp chuối, thân cây chuối non xắt mỏng, các loại rau thơm.

Ăn mì Quảng không thể thiếu ớt xanh, loại ớt sừng trâu phải cắn từng miếng ớt giòn tan, thơm nồng cay đáo để, còn nếu muốn ngon hơn thì phải kèm theo bánh tráng nướng vàng ươm. Bánh tráng được tráng từ bột gạo xay mịn. trộn thêm mè, tỏi, nước mắm, bột ngọt, khi nướng lên thơm lừng hương đồng cỏ nội.

Mì quảng là món có thể ăn bất cứ chỗ nào, lúc nào. Đất Quảng Nam, trong những dịp lễ lạt, cưới hỏi, tang tế, việc làng, tộc họ, đãi thợ thầy, ăn nửa buổi ngoài đồng bao giờ cũng có mì Quảng. Khách đến lúc nào dọn ăn cũng được, không đòi hỏi phải nóng sốt như phở, bún bò.

mi-quang-phu-chiem2Mì Quảng “chính gốc” đã sẵn sàng cho thực khách thưởng thức.

Ăn mì Quảng phải ăn nhanh và càng đông người ăn càng ngon miệng, cách ăn ấy bộc lộ một phần cá tính của người Quảng Nam là bình dị, dân dã và có tính cộng đồng làng, xã rất cao.

Ngày nay, quanh khu vực làng Phú Chiêm như Thanh Chiêm, Triêm Nam, Đông Khương (xã Điện Phương) có gần 200 phụ nữ hằng ngày thức dậy từ 1 giờ khuya để chế biến mì Quảng đến 3giờ sáng, sau đó lên Quốc lộ 1A đón xe ra Đà Nẵng, xuống Hội An, vào Tam Kỳ để bán.

Khoảng 5g sáng là xe ra tới Đà Nẵng. Các bà, các chị lại tỏa xuống chuẩn bị thúng mủng, gióng mây. Họ quảy gánh trên vai, một đầu là thúng đựng sợi mì xắt sẵn, đầu kia là nồi nước nhưn đỏ lửa, tỏa khói và thơm nức, miệng cất tiếng rao lanh lảnh: “Ai “en” mì Quảng Phú Chiêm đây”. Tiếng rao trên đường phố nghe sao mà dân dã, thấm đậm tình quê, khiến những kẻ xa quê thấy cồn cào, nôn nao tất dạ.

Các bà, các chị cho biết: Những gánh mì Phú Chiêm thường chỉ bán mỗi buổi sáng. Hôm nào lời nhiều khoảng 70.000 đồng. Buổi sáng rong ruổi với gánh mì, buổi chiều những người phụ nữ lại trở về tảo tần với bao nhiêu công việc nhà cửa, ruộng đồng, heo quéo. Khuya đến các bà, các chị lại tất bật lo chuẩn bị gánh mì Quảng để ngày mai dậy sớm ra Đà Nẵng rong ruổi gánh đi bán.

Mì Quảng Phú Chiêm bây giờ đã theo chân những người con tha hương của huyện Điện Bàn (Quảng Nam) đến khắp các vùng miền của cả nước, nhiều nhất ở khu vực ngã tư Bảy Hiền (TP.HCM).

Theo Hòa Vang (Dân Việt)

 

Mùa măng cụt quê nội và ký ức tuổi thơ

mangcut

1403324112-898c5

Thiên nhiên xứ nhiệt đới đã ban tặng cho mỗi miền quê những loài hoa thơm quả ngọt. Và cứ như thế, mỗi mùa mỗi loài hoa quả khác nhau làm nên sự thảo thơm, ngọt bùi nơi miền thôn dã.

 

Hàng năm cứ bắt đầu vào mùa mưa, khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa trái cây ở quê chín rộ. Miền Đông Nam Bộ, một vùng đất đỏ ba dan cây trái quanh năm xanh tốt, khí hậu trong lành, một địa danh nổi tiếng đã bao đời nay với đủ loại cây ngon trái ngọt – nổi bật hơn hết “có lẽ” chính là “Măng cụt”. Một trong 50 loại trái cây nổi tiếng của Việt Nam do Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam bình chọn.

Măng cụt ở quê nội tôi là loại cây chính gốc Mã Lai được các nhà truyền giáo phương Tây đưa về trồng từ 200 năm trước và được nhân giống rộng rãi cho tới tận bây giờ. Măng cụt là một loại cây ăn quả nhiệt đới, họ Bứa, có thể cao tới 20–25 m sống rất lâu năm. Lá dày, dai, màu lục sẫm, hình thuôn dài. Hoa đực cụm 3-9 hoa có lá bắc. Hoa lưỡng tính có cuống có đốt.

Quả hình cầu, to bằng quả cam trung bình, vỏ ngoài màu đỏ tím dày cứng, trong đỏ tươi như rượu vang, dày xốp, phía dưới có lá dài, phía đỉnh có đầu nhụy Từ khi trồng đến khi ra trái lần đầu là 6 năm. Trong quả có từ 6 đến 18 hạt, quanh hạt có áo hạt trắng, ăn có vị ngọt mát thơm ngon. Cây măng cụt được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam nhờ có khí hậu nóng ấm nên cây dễ thích nghi và phát triển tốt.

Cứ đến mùa hè là người ta lại ngóng đến mùa măng cụt, là thứ quả rất được nhiều người ưa chuộng. Măng cụt là loại cây ăn quả được mệnh danh là “nữ hoàng của các loại trái cây” vì nó ngon nhất trong các loại hoa quả vùng nhiệt đới.

Những quả măng cụt chín màu tím thẫm, bên trong là từng múi trắng như sữa, thịt quả mềm có vị ngọt thanh dịu pha một chút chua nhẹ rất dễ ăn, thấm từ đầu lưỡi tới cuống họng thật sảng khoái dễ chịu, quả măng cụt rất giàu dưỡng chất như: chất đạm, chất béo, chất carbonhydrates, chất xơ, calsium, chất sắt, phốt pho,… và vitamin như B1, vitamin C. Nhưng trong vỏ màu sậm lại chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa ung thư.

Trong khu vườn nhà nội tôi quanh năm đầy hoa trái. Gần năm sào đất với các lọai cây như : Xoài, ổi, mận, chôm chôm, sầu riêng, sa bô. Mỗi thứ một ít, thứ ăn lâu năm thứ mới cho quả mùa đầu. Mùa nào thức ấy, mỗi loại mang một hương vị riêng.

Còn nhớ mãi ngày xưa khi tôi còn học tiểu học, những khu vườn cây ăn quả luôn là một không gian yên ả ở vùng quê, mà cả thời thơ bé tôi luôn thấm đẫm trải qua tuổi thơ tung tăng rong ruỗi khắp vườn, cứ chân đất đầu trần mà lùng sục khắp nơi. Suốt ngày leo trèo nghịch ngợm phá phách.

Dưới cái nắng sáng sớm tháng 5, giữa vườn nghe xao xác tiếng gà trưa, tiếng gió rượt đuổi nhau xào xạc trên từng ngọn lá, ngã mình nằm trên thảm lá khô vừa học bài vừa thưởng thức các loại cây trái trong vườn, rồi ngủ say sưa ngon lành dưới bóng cây mát rượi, trên đầu là đủ thứ trái cây chín ngon ngọt.

Nội tôi lúc ấy còn khỏe lắm, bà thường mang chiếc võng ra giăng dưới gốc măng cụt ngoài vườn, tôi cũng bon chen “ké” một góc, hai bà cháu vừa đung đưa chiếc võng vừa nhìn lên những quả măng cụt no tròn núp sau tán lá. Theo tay nội chỉ: bà đố cháu xem quả này có bao nhiêu múi? Tôi chỉ việc nhìn bông hoa nổi lên phía dưới quả ấy mà đếm, “bông hoa” đó có bao nhiêu cánh thì trong quả măng cụt sẽ có bấy nhiêu múi.

Nụ hôn nồng ấm đặt vào má, nội khen tôi thông minh! chứ có nào ngờ đâu tôi đã ăn măng cụt của Nội đến muốn “mòn” cả răng và như một thói quen lại thêm cái tính “tọc mạch” của tuổi thơ, trước khi ăn bất kỳ quả nào tôi cũng không quên đếm số cánh hoa của mỗi trái và tôi thấy đúng “y boong”.

Rồi những năm, tháng, ngày cứ lặng lẽ trôi qua. Giờ đây xa quê đã lâu, trong cái nắng tháng 5 oi ả, với những cơn mưa bất chợt vào buổi chiều, tiếng ve bắt đầu râm ran trong những tán lá phượng, tàng lá me bên đường, lòng tôi lại quay về miền ký ức xa xưa.

Tôi nhớ về tuổi thơ tôi với rất nhiều kỷ niệm, chất chứa sự hồn nhiên trong sáng và những tháng ngày vui vẻ biết bao nhiêu, ngày ấy nơi miền quê vật chất cái gì cũng thiếu thốn, nhưng ai nấy đều vui vẻ mãn nguyện, không tham lam, không vụ lợi và chỉ có những tình thương yêu.

Tôi tuy sinh ra và lớn lên trên vùng đất thuần nông, nhưng “thuyền theo lái gái phải theo chồng”. Hơn mười năm qua, tôi ở chốn Thị thành đầy bon chen… tiếng xe cộ ồn ào đô thị, hàng giờ đối mặt với bộn bề công việc, muốn tìm không gian yên ắng hít thở không khí trong lành cho tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản, muốn tìm nơi vắng vẻ để được sống “chậm” hơn chút xíu cũng thật là khó.

Vì cuộc sống luôn phải vật lộn với gạo tiền, miếng cơm manh áo, chẳng mấy khi rảnh rỗi để về thăm lại chốn quê xưa, nhưng trong tâm trí tôi luôn canh cánh một điều: Dù có đi bốn phương trời thì quê mình vẫn là tuyệt nhất…

Nó đưa ta trở về với tuổi thơ yên bình và cả “dữ dội” nữa. Hôm nay chợt nhận ra mình đã không còn trẻ nữa. Tuổi thơ đã đi qua thật nhanh nhưng đọng lại trong ký ức thật nhiều. Đó cũng là nỗi day dứt của những người con xa quê mỗi khi khắc khoải nhớ về kỷ niệm cũng như hương vị quê nhà.

Mùa hè sắp tới cũng là mùa măng cụt bắt đầu vào vụ, tôi “tranh thủ” trở lại quê nhà, trước là thăm viếng mộ phần ông bà tổ tiên, thăm vườn cây trái trải qua thời gian bao nhiêu năm không về, thế mà nó vẫn xanh um tươi tốt như thuở nào, những trái măng cụt “u nu úc núc” đang dần chuyển màu vào mùa chín rộ.

Những cây măng cụt Nội trồng năm xưa nay đã già lắm rồi. Người ta thường bảo “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” nhưng người trồng cây nay cũng đã ra người thiên cổ, cảnh cũ thì còn đó nhưng người xưa đâu rồi? Tôi chỉ muốn giữ mãi hình bóng của Nội và những kỷ niệm đẹp thời thơ ấu của tôi, để đôi khi nhớ đến lại thấy lòng mình lâng lâng một cảm giác thật kỳ lạ khó tả.

 

Theo Mỹ Nhân (Dân Việt)

 

Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ. Chàng từng cầm quân mấy lần đánh cho tan tác thầy trò Nguyễn Ánh.

 


Nhà Tây Sơn mất, Vu Gia Long vừa thắng thế trên đất nước Việt thì cũng bắt đầu giết hại những người từng theo nhà Tây Sơn. 

Nhân dân trong xóm quý mến chàng, khuyên chàng trốn đi thật xa. Họ giúp tiền gạo và mọi thứ cần dùng, trong đó có cả một chiếc thuyền nhỏ để tiện đi lại. Và chàng ra đi. Ngược dòng sông Cửu Long, chàng tiến sâu vào nước Chân Lạp. 

Một hôm, chàng dừng thuyền, lên bộ để mua sắm thức ăn. Chàng bước vào một cái quán bên đường. Trong quán có một bà mẹ ngồi ủ rũ bên cạnh một cô gái nằm mê man bất tỉnh. Đó là hai mẹ con đi dâng hương trên núi Tà-lơn, về đến đây thì người con bị ốm nặng. Vốn có biệt tài về nghề thuốc, chàng đã cứu chữa cho cô gái khỏi bệnh. Sẵn có thuyền, chàng chở họ về tận nhà. 

Cô gái đem lòng quyến luyến chàng. Sau một tuần chay tạ ơn Trời, Phật, mẹ nàng cho biết là Phật đã báo mộng cho hai người lấy nhau. Chàng vui mừng nhận lời và từ đó hai vợ chồng làm ruộng, nuôi tằm, xây dựng gia đình đầm ấm. 

Mười năm thoảng qua như một giấc mộng. Hai vợ chồng quấn quýt nhau như đôi chim câu. Trong vườn nhà vợ có một cây ăn quả gọi là cây “tu-rên” mà ở xứ sở chàng không có. Mùa trái chín đến, vợ bổ một trái đưa cho chồng ăn. Trái “tu-rên” vốn có một mùi khó chịu. Thấy chồng nhăn mặt, vợ bảo: 

– Anh ăn sẽ biết nó đậm đà như lòng em đây. 

Không ngờ một ngày kia, vợ đi dâng hương Đế Thiên, Đế Thích về thì ngộ cảm. Chồng cố công chạy chữa nhưng không sao cứu kịp. Cái chết chia rẽ cặp vợ chồng một cách đột ngột. Không thể nói hết cảnh tượng đau khổ của người chồng. Tuy cách trở âm dương, nhưng hai người vẫn gặp nhau trong mộng. Chồng hứa trọn đời sẽ không lấy một ai nữa. Còn hồn vợ thì hứa không lúc nào xa chồng. 

Nghe tin Gia Long đã thôi truy nã những người thù cũ, bà con ở quê nhà nhắn tin lên bảo chàng về. Những người trong xóm cũng khuyên chàng tạm đi đâu cho khuây khỏa. Chàng đành từ giã quê hương thứ hai của mình. Trước ngày lên đường, vợ báo mộng cho chồng biết sẽ đi theo cho đến sơn cùng thủy tận. Năm ấy, cây “tu-rên” tự nhiên chỉ ra mỗi một trái. Trái “tu-rên” ấy lại tự nhiên rụng vào vạt áo chàng giữa lúc chàng ra thăm cây kỷ niệm của vợ. Chàng mừng rỡ, quyết đưa nó cùng về xứ sở. 

Chàng lại trở về nghề dạy học, nhưng nỗi riêng canh cánh không bao giờ nguôi. Chàng đã ương hạt “tu-rên” thành cây, đem trồng trong vườn, ngoài ngõ. Từ đấy ngoài công việc dạy học, chàng còn có việc chăm nom cây quý. 

Nhưng cây “tu-rên” của chàng ngày một lớn khỏe. Lại mười năm nữa sắp trôi qua. Chàng trai ngày xưa bây giờ tóc đã lốm đốm bạc. Nhưng ông thấy lòng mình trẻ lại khi những cây mà ông bấy lâu chăm chút nay bắt đầu khai hoa kết quả. Ông sung sướng mời họ hàng, làng xóm tới nhà nhân ngày giỗ vợ và nhân thể thưởng thức một thứ trái lạ chưa hề có ở trong vùng. 

Khi những trái “tu-rên” được bưng ra đặt trên bàn, mọi người thoáng ngửi thấy một mùi khó chịu. Chủ nhân biết ý, đã nói đón: “… Nó xấu xí, có mùi khó chịu, nhưng chính những múi của nó ở trong lòng lại đẹp đẽ, thơm tho như mối tình đậm đà của đôi vợ chồng son trẻ…”. Ông ta vừa nói vừa bổ những trái “tu-rên” chia từng múi cho mọi người cùng nếm. Đoạn, ông ta kể hết câu chuyện tình duyên xưa mà từ khi về đến nay ông đã cố ý giấu kín trong lòng. Ông kể mãi, kể mãi. Khi kể xong, ở khóe mắt con người chung tình ấy, hai giọt lệ long lanh tự nhiên nhỏ vào múi “tu-rên” đang cầm ở tay. Hai giọt nước mắt ấy sôi lên trên múi “tu-rên” như vôi gặp nước và cuối cùng thấm vào múi như giọt nước thấm vào lòng gạch. 

Sau đám giỗ ba ngày, người đàn ông ấy bỗng không bệnh mà chết. Từ đấy, dân làng mỗi lần ăn thứ trái đó đều nhớ đến người gây giống, nhớ đến chuyện người đàn ông chung tình. Họ gọi “tu-rên”bằng hai tiếng “sầu riêng” để nhớ mối tình chung thủy của chàng và nàng. Người ta còn nói những cây sầu riêng nào thuộc dòng loại hạt có hai giọt nước mắt của chàng mới là thứ sầu riêng có trái ngon và thơm hơn các thứ khác.

(Sưu tầm)